Phân tích bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử

Hàn Mặc Tử là nhà thơ thuộc trường phái thơ siêu thực, quan niệm thơ độc đáo, khác lạ, ngôn ngữ lạ hóa. Đây thôn Vĩ Dạ là một trong những bài thơ tình hay nhất của ông. Hãy cùng phân tích bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ để thấy được một tình yêu thiết tha man mác, đượm vẻ u buồn ẩn hiện giữa khung cảnh thiên nhiên hoà vào lòng người, cái thực và mộng, huyền ảo và cụ thể hoà vào nhau.

Phân tích bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử-1
Phân tích bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử

 

Dàn ý bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ

Phần 1: Không gian cảnh vườn thôn Vĩ, nét đặc trưng của thiên nhiên xứ Huế với nỗi nhớ

– Câu hỏi tu từ mang giọng điệu thân tình
=>> Ý nghĩa:
+) Là lời trách móc nhẹ nhàng
+) Lời mời gọi chân tình, tha thiết
+) Lời tự vấn
– Hình ảnh
+) Nắng hàng cau
+) Nắng mới lên
+) Vườn ai: mướt quá, xanh như ngọc
+) Mặt chữ điền:
Khuôn mặt của cô gái Huế
Khuôn mặt của nhà thơ

Phần 2: Không gian bến sông trăng thực ảo đan xen và tâm trạng buồn đau, chia lìa

– Thiên nhiên không hòa hợp
+) Điệp từ “gió”, “mây”
+) Từ ngữ không theo quy luật tự nhiên
+) Nhịp thơ 4/3
– Nỗi lo âu, phấp phỏng
+) Đại từ phiếm chỉ “ai”
+) Hình ảnh trăng
+) Từ “kịp”
– Nỗi buồn trĩu nặng
+) Nhân hóa
+) Động từ gợi tâm trạng

Phần 3: Không gian thiên nhiên chập chờn gắn với cảm xúc mơ tưởng, hoài nghi

– Điệp ngữ “khách đường xa”
– Hình ảnh huyền ảo:
+) Áo trắng
+) Sương khói
+) Nhân ảnh
– Câu hỏi tu từ
+) Đại từ phiếm chỉ
+) Nỗi băn khoăn, tuyệt vọng

Phân tích bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ đoạn 1:

Phân tích bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử-2
Phân tích bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử đoạn 1

Mở bài đầu thơ là một lời trách móc nhẹ nhàng của nhân vật trữ tình.

Sao anh không về chơi thôn Vĩ.
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền.

Chỉ một câu hỏi thôi! Một câu hỏi của cô gái thôn Vĩ nhưng chan chứa bao yêu thương mong đợi. Câu thơ vừa có ý trách móc, vừa là lời mời gọi chân thành da diết và lời phân thân tự hỏi chính mình. Thể hiện nỗi niềm đau xót, tiếc nuối nghẹn ngào của cô gái đối với người yêu vì đã không được chiêm ngưỡng vẻ đẹp mặn mà, ấm áp tình quê của thôn Vĩ – vùng nông thôn ngoại ô xinh xắn thơ mộng, một phương diện của cảnh Huế.

Nét đặc sắc của thôn Vĩ – quê hương người con gái gợi mở ở câu đầu liên đây đã được tả rõ nét. Một bức tranh thiên nhiên tuyệt tác rộng mở trước mắt người đọc sau lời phân tích bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ đoạn 1. Hình ảnh nắng tưới lên trên ngọn cau tươi đẹp, tràn đầy sức sống. Nắng mới là nắng sớm bắt đầu của một ngày, những hàng cau cao vút vươn mình đón lấy những tia nắng sớm kia, và tất cả tràn ngập ánh nắng và buổi bình minh. Cái nắng hàng cau nắng mới lên sao lại gợi một nỗi niềm làng quê hương đến thế. Nắng mới cũng còn có ý nghĩa là nắng của mùa xuân, mở đầu cho một năm mới nên bao giờ nó cũng bừng lên rực rỡ nồng nàn. Một khoảng xanh của vườn tược hiện ra, nhắm mắt lại ta cũng hình dung ra ngay cái màu xanh mượt mà, mỡ màng của vườn cây. Ta không chỉ cảm nhận ở đó màu xanh của vẻ đẹp mà nó còn tràn trề sức sống mơn mởn. Thiên nhiên hiện lên trong trẻo, ấm áp, tinh khôi đầy sức sống qua lời phân tích bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ đoạn 1

Lá trúc che ngang mặt chữ điền.

Trong vườn thôn Vĩ Dạ kia, nhành lá trúc và khuôn mặt chữ điền sao lại có mối liên quan bất ngờ mà đẹp thế: những chiếc lá trúc thanh mảnh, thon thả che ngang gương mặt chữ điền. Mặt chữ điền – ý chỉ khuôn mặt của cô gái Huế, cũng là khuôn mặt của nhà thơ. Câu thơ có hình tượng đa nghĩa, độc đáo, ấn tượng, khắc họa nét đẹp kín đáo, đặc trưng của người con xứ Huế, tạo nên cái thần của thôn Vĩ.

Phân tích bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ đoạn 2

Phân tích bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử-3
Phân tích bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử đoạn 2

Gió theo lối gió mây đường mây
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay ?

Hình ảnh thiên nhiên không hòa hợp

Điệp từ “gió” và “mây” tạo ra sự cố định, ngăn cách giữa những sự vật, thiên nhiên. Thông thường, gió thổi mây bay là quy luật một chiều không thể chia cắt. Nhưng câu thơ lại hàm chứa những từ ngữ không tuân theo quy luật tự nhiên: Gió đi đường của gió, mây bay lối của mây, mây gió chia lìa, ly tán đoạn tuyệt với nhau. Nhịp thơ 4/3 đã cắt đôi câu thơ, ngắt “gió” và “mây” ra thành hai thái cực. Hình ảnh thiên nhiên không hòa hợp chính là do mặc cảm về thân phận. Hàn Mặc Tử yêu thiên nhiên và cuộc sống vô cùng, tuy nhiên lại không thể trở về cuộc sống đời thường được nữa (căn bệnh vốn bị người đời xa lánh)

Nỗi buồn trĩu nặng hiện lên sau khi phân tích bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ đoạn 2

Hình ảnh nhân hóa “dòng nước buồn thiu” kèm động từ gợi tâm trạng kéo theo “lay” cho ta thấy một tâm hồn đau buồn, u uất của tác giả. Từ “lay” tự nó không vui, không buồn, nhưng trong bài phân tích bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ đoạn 2 ta thấy được, sông nước hay chính nỗi buồn của mây nước đã xâm chiếm vào hồn hoa bắp bên sông và tạo thành một nỗi buồn trĩu nặng trong lòng thi nhân. Nỗi buồn ấy xuất phát từ sự cô đơn, mặc cảm, day dứt không yên lòng, vẫn còn nhiều điều nuối tiếc.

Nỗi lo âu, phấp phỏng chan chứa trong lời phân tích bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ đoạn 2

Đại từ phiếm chỉ “ai” kèm theo câu hỏi tu từ tạo cảm giác mông lung, vô định. Hình ảnh “trăng” thể hiện một nỗi niềm tri kỷ và đáng tin cậy. Thiên nhiên tràn ngập ánh trăng tạo nên một cõi liêu trai, huyền ảo không có thực. Trăng là thứ duy nhất đi ngược lại xu thế chảy trôi của vạn vật để tìm về với thi sĩ. Trăng là điểm tựa, là niềm an ủi, là toàn bộ hi vọng về sự thấu hiểu, là cầu nối đưa nhà thơ trở về với đời thực.

Từ “kịp” là hiện thân cho nỗi lo sợ của tác giả. Thi nhân lo sợ vì quỹ thời gian còn lại quá ít ỏi mà khát vọng giao cảm với thiên nhiên và cuộc đời vẫn còn đong đầy, tha thiết. Qua lời phân tích bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ đoạn 2 ta thấy được cái tôi cô đơn bị bỏ rơi, bị quên lãng giữa dòng đời tội nghiệp. Yêu cuộc sống đến mãnh liệt nhưng lại gặp phải hoàn cảnh bi thương.

Phân tích bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ đoạn 3

Phân tích bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử-4
Phân tích bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử đoạn 3

Điệp ngữ “khách đường xa” có sức gợi tả, ngắt nhịp 4/3 tạo nhịp điệu khẩn trương gấp gáp. Nhấn mạnh sự mong đợi tha thiết, lời khẩn khoản van nài nhưng người xưa thật xa xôi, tất cả đều trở nên vô vọng.

Hình ảnh “màu áo trắng mờ ảo” trong sương khói khiến cho dáng hình con người nhòa đi trước mắt, nhòa đi cả trong tiềm thức. Màu áo trong tâm tưởng vốn tràn đầy kỷ niệm nay lại trở nên nhạt nhòa, xa cách. Câu hỏi tu từ với đại từ phiếm chỉ “ai” thể hiện lớp từ đa nghĩa.

Thiên nhiên chập chờn, ma mị, mộng ảo, vận động theo logic của tâm trạng. Đó là cái tôi đau thương, nhạt nhòa không ra đường nét, là nỗi niềm hoài nghi, khắc khoải, mong chờ trong vô vọng. Là tâm trạng đau thương, mặc cảm không dám trông mong vào sự đậm đà của tình người trong chốn dân gian. Sau lời phân tích bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ đoạn 3, ta thấy được một tình yêu đơn phương, day dứt đến tội nghiệp. Nỗi niềm băn khoăn, day dứt khôn nguôi càng nhấn mạnh khao khát được sống, được giao cảm, yêu thương và chia sẻ với cuộc đời.

Đây thôn Vĩ Dạ là một bức tranh đẹp về cảnh người và người của miền đất nước qua tâm hồn giàu tưởng tượng và đầy yêu thương của nhà thơ với nghe thuật gợi liên tưởng, hoà quyện thiên nhiên với lòng người. Từ phân tích bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ, ta thấy được rằng, trải qua bao năm tháng, cái tình Hàn Mặc Tử vẫn còn nguyên nóng hổi, lay động day dứt lòng người đọc.

Nguồn: ccbook.vn

Add a Comment

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *