Hướng dẫn viết bài nghị luận văn học nhàn – Nguyễn Bỉnh Khiêm

Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, tên tự là Hanh Phủ, hiệu là Bạch Vân am cư sĩ. Ông sinh năm 1491 và mất năm 1585, quê tại làng Trung Am, huyện Vĩnh Lại, hay thuộc xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng. Qua những tư tưởng mà ông gửi gắm qua nghị luận văn học nhàn ta sẽ hiểu được tại sao Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm là một trong những nhân vật có sức ảnh hưởng nhất tới văn hóa – lịch sử Việt Nam trong suốt thế kỉ XVI.

1, Hướng dẫn viết bài nghị luận văn học nhàn Nguyễn Bỉnh Khiêm hai câu đề

Hướng dẫn viết bài nghị luận văn học nhàn - Nguyễn Bỉnh Khiêm-1
Nhàn là một trong những tác phẩm nổi bật của Nguyễn Bỉnh Khiêm

 “Một mai một cuốc, một cần câu

Thơ thẩn dầu ai vui thú nào”

+ Điệp số từ “một” lặp đi lặp lại, gợi lên sự chắc chắn, cứng cỏi, kiên định, sẵn sàng.

+ Nhịp điệu chậm rãi (2/2/3) gợi lên tư thế ung dung.

+ Liệt kê hàng loạt: mai, cuốc, cần câu những vật dụng quen thuộc của nhà nông.

+ Trạng thái “thơ thẩn” trong cảm nhận về bài thơ nhàn: ung dung, điềm nhiên, thanh thản, trạng thái thoải mái, không vướng bận, tha hồ dong duỗi, không để điều gì làm ưu tư, phiền muộn.

+ Thú vui: “dầu ai vui thú nào” mặc người đời, không quan tâm, chỉ lo việc đồng áng giữa thôn quê để tâm hồn ung dung tự tại mặc những thú vui khác của người đời.

=> Nhàn thể hiện ở sự ung dung trong phong thái, thảnh thơi, vô sự trong lòng, vui với thú điền viên. Hai câu thơ thể hiện quan niệm về cuộc sống nhàn tản, gần gũi với dân.

 

2, Hướng dẫn viết bài nghị luận văn học nhàn Nguyễn Bỉnh Khiêm hai câu thực

 

Hướng dẫn viết bài nghị luận văn học nhàn - Nguyễn Bỉnh Khiêm-2
Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm có tư tưởng sống nhàn tản, tránh xa chốn quan trường hỗn loạn

“Ta dại ta ta tìm nơi vắng vẻ

Người khôn người đến chốn lao xao”

Nghệ thuật sử dụng từ ngữ đối lập: ta >< người; dại >< khôn; vắng vẻ>< lao xao … – Nơi vắng vẻ” và “chốn lao xao” mang ý nghĩa biểu tượng:

+ cụm từ “nơi vắng vẻ’: là một nơi thiên nhiên an bình

+ “chốn lao xao”: nơi quan trường, chốn giành giật tư lợi, xô bồ, ồn ả, đầy những ganh đua, thủ đoạn, hãm hại nhau. => Như vậy “Dại “trong nội dung bài thơ nhàn thể hiện một lối sống cao đẹp, một tư tưởng, nhân cách thanh cao, không màng danh lợi, không nuôi cơ mưu, không chịu luồn cúi, mua danh, bán tước, tham những điều phù phiếm. Đây là cách nói ngược, thâm trầm, vừa hóm hỉnh vừa pha chút mỉa mai: dại thực chất là khôn, còn khôn thực ra lại là dại.

Đúng như ông đã nói:

“Khôn mà khôn độc là khôn dại

Dại vốn hiền lành ấy dại khôn”

Qua bài nghị luận văn học nhàn ta thấy Nguyễn Bỉnh Khiêm đã trở về với thiên nhiên, về nơi vắng vẻ là tìm đến cuộc sống bình dị, thanh tao. Ở đó con người và thiên nhiên hòa vào nhau. Đó cũng một lần nữa thể hiện sâu sắc hơn vẻ đẹp tâm hồn của Nguyễn Bỉnh Khiêm => Nhàn là nhận dại về mình, nhường khôn cho người, xa lánh chốn danh lợi bon chen, tìm về “nơi vắng vẻ”, sống hòa nhập với thiên nhiên để “di dưỡng tinh thần”.

 

3, Hướng dẫn viết bài nghị luận văn học nhàn Nguyễn Bỉnh Khiêm hai câu luận

 

 “Thu ăn măng trúc, đông ăn giá

Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao

Hướng dẫn viết bài nghị luận văn học nhàn - Nguyễn Bỉnh Khiêm-3
Tượng Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm

Thu: măng trúc; đông: giá, đây là những món ăn dân dã, thanh đạm, bình dị nhưng không khắc khổ, cơ cực.

Xuân: tắm hồ sen; hạ: tắm ao, thú vui thanh bần, không kiểu cách, lối sinh hoạt giản dị. Con người thuận theo tự nhiên, hòa hợp với thiên nhiên, mùa nào thức ấy, mùa nào ứng với thú vui ấy. Trong bài thơ nhàn ngữ văn 10 ta không còn thấy một Trạng Trình, không thấy tư thế cao ngạo, chiễm chệ của một ông quan mà chỉ hiện lên ở đây một lão nông tri điền

Nhàn là sống thuận theo lẽ tự nhiên, hưởng những thức có sẵn theo mùa ở nơi thôn dã mà không phải mưu cầu, thanh đoạt. Nguyễn Bỉnh Khiêm chọn cho mình một cuộc sống hợp với tự nhiên, hòa với đời thường, bình dị mà không kém phần thanh cao.

 

4, Hướng dẫn viết bài nghị luận văn học nhàn Nguyễn Bỉnh Khiêm hai câu kết

 

“Rượu đến cội cây ta sẽ uống

Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao”

Hai chữ “nhìn xem” biểu hiện một thế đứng cao hơn. Dường như Nguyễn Bỉnh Khiêm đang đứng trên phú quý, vượt ra ngoài “lực hấp dẫn” của phú quý để “nhìn xem” và cười cợt về nó.

Đây không phải lần đầu tiên Nguyễn Bỉnh Khiêm bày tỏ quan điểm về nhân sinh

“Ở thế mới hay người bạc ác

Giàu thì tìm đến, khó thì lui” (Thói đời)

Phú quý đi với chức quyền đối với Nguyễn Bỉnh Khiêm chỉ là cuộc sống của bọn người bạc ác, đầy thủ đoạn, giẫm đạp lên nhau mà sống.

“Nhàn” là một trong những tác phẩm nổi bật của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Nhàn theo quan niệm của nhà thơ là sống thuận lợi theo lẽ tự nhiên, không màng danh lợi. Qua bài nghị luận văn học nhàn ta đồng cảm với quan niệm nhân sinh độc đáo của nhà thơ cũng như lời tâm sự về cuộc sống và sở thích cá nhân của một nhân tài kiệt xuất như Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Nguồn: ccbook.vn

Add a Comment

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *